Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang phát triển mạnh mẽ, tác động sâu rộng đến mọi mặt đời sống xã hội, đòi hỏi mỗi địa phương phải nắm bắt cơ hội để khai thác tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội. Các nguồn lực đó bao gồm: Nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài chính, khoa học - công nghệ và con người,… Trong đó, con người là nguồn lực quan trọng nhất, có tính chất quyết định sự tăng trưởng và phát triển xã hội.

Ngày hội tư vấn hướng nghiệp, giới thiệu việc làm cho thanh niên, học sinh, sinh viên.
Ảnh: PV
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định 3 khâu đột phá chiến lược nhằm khơi thông, liên kết, tạo động lực thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 5 năm tới. Trong đó, đột phá đầu tiên là “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo các cấp, nhất là bậc trung học phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. Thu hút, phát triển nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế; nâng cao chất lượng các trường cao đẳng, đại học; quan tâm công tác đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ các cấp".
Thực hiện Nghị quyết Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TU ngày 21/1/2021 về phát triển nguồn nhân lực tỉnh Sơn La giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030, trong đó xác định mục tiêu: Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục các cấp, nhất là bậc trung học phổ thông. Nâng cao chất lượng đào tạo của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn; tiếp tục xây dựng Sơn La trở thành trung tâm đào tạo của vùng Tây Bắc và các tỉnh Bắc Lào.
Quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp. Thu hút, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, làm tiền đề thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Với quan điểm phát triển nguồn nhân lực phải gắn kết chặt chẽ và phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; nhu cầu của các ngành, lĩnh vực.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, của hệ thống chính trị và toàn xã hội; phải bảo đảm toàn diện trên các yếu tố về thể lực, trí lực, tác phong, kỷ luật, kỹ năng nghề nghiệp, hành vi và ý thức chính trị, xã hội; phải có trọng tâm, trọng điểm, chú trọng phát triển đội ngũ lao động trình độ cao trong các ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng của tỉnh.
Chuyển một phần hệ thống đào tạo nhân lực theo định hướng của Nhà nước sang hoạt động theo cơ chế đào tạo theo nhu cầu của xã hội và thị trường lao động, nhất là các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm, mũi nhọn của tỉnh, đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của hệ thống chính trị và việc sử dụng lao động của toàn xã hội. Tăng cường, mở rộng liên kết vùng để chủ động tạo nguồn nhân lực, phát triển nhân lực; liên kết với các cơ sở giáo dục, đào tạo lớn, có uy tín để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Toàn tỉnh hiện có 325/598 trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn quốc gia, đạt 54,35%. Tỷ lệ huy động trẻ 6 tuổi vào lớp 1 đạt 99,8%; huy động vào lớp 6 đạt 99,8%; tỷ lệ trẻ 11 tuổi hoàn thành chương trình tiểu học đạt 93,45%; trẻ mẫu giáo đạt 98,9%, trong đó mẫu giáo 5 tuổi đạt 99,6%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở trúng tuyển lớp 10 đạt 70,61% (trong đó hệ THPT là 63,61%; hệ GDTX là 7%). Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học. Triển khai đồng bộ, toàn diện Chương trình giáo dục phổ thông mới lớp 1 năm học 2020 - 2021; Chương trình giáo dục mầm non sau sửa đổi bổ sung; Chương trình lớp 2 và lớp 6 năm học 2021 - 2022.
Thực hiện tốt chương trình, kế hoạch bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; đảm bảo về cơ sở vật chất, sách giáo khoa; công tác tuyên truyền, phổ biến về chương trình giáo dục phổ thông mới được thực hiện có hiệu quả, tạo sự đồng thuận cao trong ngành giáo dục - đào tạo và toàn xã hội. Thực hiện phương châm đánh giá đúng thực chất, công bằng, khách quan chất lượng giáo dục, trung thực trong học tập và thi cử ở các cấp học; loại bỏ bệnh thành tích; xử lý nghiêm các tiêu cực trong giáo dục, đào tạo. Năm 2021, tỷ lệ đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông đạt 98,34%, tăng 2,6% so với năm 2020; điểm trung bình các môn thi của thí sinh toàn tỉnh đạt 6,04 điểm, tăng 0,4 điểm so với năm 2020; đứng thứ 59/63 tỉnh thành phố, tăng 3 bậc so với năm 2020.
Tổng số giáo viên, cán bộ quản lý trên địa bàn tỉnh là 22.475 người, trong đó cán bộ quản lý là 1.626 người (trình độ tiến sĩ đạt 0,01%; thạc sĩ đạt 1,86%; đại học đạt 69,6%; cao đẳng đạt 21,9%; trung cấp đạt 6,7%). Tỷ lệ giáo viên/lớp cấp mầm non đạt 1,48%; cấp tiểu học đạt 1,3%; cấp trung học cơ sở đạt 1,93%; cấp trung học phổ thông đạt 1,8%. Quy mô, mạng lưới trường lớp các cấp học được sắp xếp, củng cố và phát triển, toàn tỉnh có 598 trường (Trong đó mầm non là 229 trường, tiểu học là 97 trường, trung học cơ sở là 226 trường, trung học phổ thông là 45 trường); 12.860 lớp học, 19.768 giáo viên; cơ sở vật chất trường học được đầu tư, bổ sung đồng bộ, từng bước hiện đại, cơ bản đáp ứng đủ 1 phòng/lớp học, đảm bảo dạy học 2 buổi/ngày (phòng học kiên cố đạt 69,7%; tăng 4,9% so với năm 2020); hệ thống thư viện, phòng thí nghiệm, phòng học bộ môn, nhà làm việc, nhà công vụ cho giáo viên, nhà ăn, nhà ở bán trú, công trình nhà vệ sinh, nước sạch, trang thiết bị dạy học được quan tâm đầu tư.
Tiếp tục thực hiện công tác rà soát, sắp xếp, tổ chức lại hệ thống cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở và linh hoạt đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động; bảo đảm quy mô, cơ cấu và hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, chuẩn hoá, có phân tầng chất lượng; thu hẹp những ngành nghề không còn nhu cầu đào tạo, giải thể các cơ sở giáo dục và đào tạo yếu kém, phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao. Tăng cường tuyển sinh, đào tạo 14 nghề trọng điểm đã được phê duyệt: Cấp độ quốc tế (Công nghệ ô tô, hàn, điện công nghiệp); cấp độ khu vực ASEAN (vận hành nhà máy thủy điện); cấp độ quốc gia (kỹ thuật xây dựng, vận hành máy thi công nền, công nghệ thông tin, hướng dẫn du lịch, trồng trọt và bảo vệ thực vật, chăn nuôi - thú y, lâm sinh, điều dưỡng, dược, hộ sinh).
Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ tại các cơ sở đào tạo, chủ động xác định các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá chất lượng đào tạo. Thực hiện chủ trương giao chỉ tiêu đào tạo theo cơ chế đặt hàng. Sắp xếp mạng lưới; cơ cấu ngành nghề; xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý các trường đại học, cao đẳng, trung cấp trên địa bàn. Hiện trên địa bàn tỉnh có 1 trường đại học, 3 trường cao đẳng, 2 trường trung cấp, với cơ cấu ngành nghề thuộc các lĩnh vực: Chăm sóc sức khỏe; nông, lâm nghiệp; nội vụ; công tác xã hội; văn hóa du lịch; nghệ thuật; cơ khí; công nghệ ôtô; điện dân dụng; công nghệ môi trường; công nghệ thông tin; dịch vụ pháp lý...
Năm 2021, toàn tỉnh đào tạo 9.737 học sinh, sinh viên (hệ đại học là 4.980, hệ cao đẳng là 4.144, trung cấp chuyên nghiệp là 613); số sinh viên hệ đại học, cao đẳng là 50,3 người/1 vạn dân. Tuyển sinh 3.634 người (hệ đại học là 750 người, hệ cao đẳng là 537 người, trung cấp chuyên nghiệp là 1.604 người, sơ cấp là 721 người, đào tạo nghề dưới 03 tháng là 22 người); số sinh viên tốt nghiệp là 2.539 người đạt 69,86% (hệ đại học là 588 người, hệ cao đẳng là 567 người, trung cấp chuyên nghiệp là 723 người, sơ cấp là 629 người, đào tạo nghề dưới 3 tháng là 32 người).
Chỉ đạo các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tập trung nguồn lực để nâng cao chất lượng đào tạo, gắn kết với doanh nghiệp để tìm kiếm và giới thiệu việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp theo phương châm "Cải tiến phương pháp giảng dạy, tăng cường thực hành, áp dụng công nghệ thông tin vào quá trình đào tạo. Hợp tác với doanh nghiệp xây dựng chương trình đào tạo theo hướng hình thành các kỹ năng cần thiết cho lực lượng lao động trong tương lai; tham gia vào quá trình đào tạo". Triển khai có hiệu quả các cơ chế, chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp, phát triển nhân lực có kỹ năng nghề; tăng cường chuyển đổi số và đào tạo trực tuyến, bảo đảm thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0. Phối hợp với các doanh nghiệp tổ chức tư vấn, hướng nghiệp cho học sinh, sinh viên. Phát triển đa dạng các hình thức đào tạo nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên và tập quán dân cư vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Năm 2021, toàn tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề cho 18.020 người lao động, đạt 100,3% so với kế hoạch; trong đó: cao đẳng nghề: 874 người; trung cấp nghề: 1.609 người; sơ cấp nghề và dưới 3 tháng cho 6.441 người, chuyển giao công nghệ: 9.096 người. Số lao động nông thôn được đào tạo nghề là 11.431 người. Chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 428.519 người, đạt 57%, trong đó được cấp văn bằng, chứng chỉ là 165.393 người, đạt 22% (tỷ trọng nhân lực được tập huấn, chuyển giao công nghệ 264.553 người, chiếm 61,7%; bậc sơ cấp nghề là 37.924 người, chiếm 8,9%; trung cấp nghề là 30.424 người, chiếm 7,1%; cao đẳng nghề là 23.783 người, chiếm 7,1%; trung cấp chuyên nghiệp là 11.626 người, chiếm 2,7%; cao đẳng là 22.883 người, chiếm 5,3%; đại học là 32.739 người, chiếm 7,6% và trên đại học là 4.714 người, chiếm 1,1%).
Năm 2021, cấp tỉnh tổ chức 52 lớp với 2.910 lượt học viên; cấp huyện mở 41 lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Đảng cho 2.920 học viên và 45 lớp bồi dưỡng khác cho 3.519 học viên. Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức khối đảng, đoàn thể, công chức, viên chức cấp tỉnh, huyện từng bước được nâng lên. Đội ngũ cán bộ, công chức khối đảng, đoàn thể cấp tỉnh, cấp huyện là 1.005 người, trong đó 100% đạt trình độ đại học và trên đại học; đội ngũ cán bộ công chức cấp tỉnh, cấp huyện là 2.174 người, trong đó 97,06% đạt trình độ đại học và trên đại học; đội ngũ viên chức cấp tỉnh, cấp huyện 29.058 người, trong đó 68% đạt trình độ đại học và trên đại học.
Tỷ lệ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đạt tiêu chuẩn về trình độ chính trị là 100%. Tỷ lệ đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, bồi dưỡng quản lý nhà nước là 87,97%. Thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, năm 2021 đã bồi dưỡng kiến thức dân tộc cho 275 cán bộ công chức, viên chức thuộc các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã là 4.150 người, trong đó 96,98% có trình độ từ trung cấp trở lên. Tỷ lệ người trong độ tuổi lao động là người dân tộc thiểu số được đào tạo nghề phù hợp đạt 31%, trong đó 57% là lao động người dân tộc thiểu số trong độ tuổi lao động từ 18-35 tuổi.
Chú trọng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn (chủ yếu là người dân tộc thiểu số) gắn với chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới, giúp tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, có định hướng phát triển nghề nghiệp, sản xuất theo hướng bền vững; chất lượng lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh đã cải thiện nâng cao. Chất lượng nguồn nhân lực, tình hình phân bổ, sử dụng lao động theo ngành, lĩnh vực đã có chuyển biến theo hướng tăng tỷ lệ lao động làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ lệ lao động trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp.
Tỷ lệ lao động lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp là 66,86% (giảm 1,84% so với năm 2020), trong đó, lao động qua đào tạo là 215.919 người, chiếm 44,6%. Tỷ lệ lao động lĩnh vực công nghiệp và xây dựng 16,42% (tăng 0,92% so với năm 2020) trong đó, lao động qua đào tạo là 106.600 người, chiếm 89,6%. Tỷ lệ lao động lĩnh vực thương mại và dịch vụ 16,72% (tăng 0,92% so với năm 2020), trong đó lao động qua đào tạo là 110.898 người, chiếm 91,5%.
Huy động nguồn lực đầu tư xây dựng Trường đại học Tây Bắc và một số trường cao đẳng trên địa bàn trở thành cơ sở đào tạo chất lượng cao, đủ năng lực đào tạo một số ngành, nghề được các nước trong khu vực ASEAN hoặc quốc tế công nhận, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La, Việt Nam và các tỉnh Bắc Lào. Tổng diện tích các cơ sở đào tạo các ngành, nghề là 95,75 ha (đại học là 34,2 ha; cao đẳng là 46,05 ha, trung cấp chuyên nghiệp là 15,5 ha); đào tạo hệ cao đẳng 32 ngành nghề; trung cấp 42 ngành nghề; sơ cấp và dưới 3 tháng 96 ngành nghề, trong đó đã đầu tư 14 nghề trọng điểm cấp quốc tế, khu vực và quốc gia. Hàng năm, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác trên địa bàn tỉnh đã đào tạo khoảng 18.000 học sinh, sinh viên.
Bên cạnh đó, tỉnh tập trung phát triển nhân lực ngành khoa học, công nghệ đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng trên cả 3 yếu tố cơ bản: Sức khỏe, kỹ năng nghề nghiệp, đạo đức và cơ cấu hợp lý, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tính đến ngày 31/12/2021, nguồn lực khoa học công nghệ thuộc các tổ chức khoa học công nghệ trên địa bàn tỉnh là 1.273 người (tiến sĩ 96; thạc sĩ 555; đại học 319; cao đẳng 29; trình độ khác 274); ngành Y tế đã cử 153 người đi đào tạo ở các cấp trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho 2.138 người lao động theo vị trí việc làm.
Tổ chức bộ máy, nhân lực ngành y tế tiếp tục được sắp xếp theo hướng tinh gọn đầu mối, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động; cơ sở vật chất đảm bảo thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; 100% trạm y tế xã đủ điều kiện khám chữa bệnh BHYT; thực hiện được tối thiểu 80% danh mục dịch vụ kỹ thuật của tuyến huyện. Toàn tỉnh có 179/204 xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế, đạt 87,7%; tỷ lệ giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 29,2%; tỷ lệ bác sĩ trên 1 vạn dân đạt 8,53%, tăng 0,2% so với năm 2020; tỷ lệ dược sĩ đại học trên 1 vạn dân đạt 0,79% tăng 0,6% so với năm 2020; tỷ lệ người dân có thẻ BHYT đạt 90%, giảm 5,7% so với năm 2020.
Bên cạnh đó, tỉnh Sơn La tập trung duy trì, củng cố và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng; mở rộng, nâng cao chất lượng các trung tâm ngoại ngữ, tin học, trung tâm giáo dục thường xuyên; khuyến khích, đẩy mạnh phong trào học tập thường xuyên, học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, kết quả gia đình học tập đạt 67,2%, cộng đồng học tập đạt 68,2%, đơn vị học tập đạt 56,4%, dòng họ học tập đạt 65%, cộng đồng học tập cấp xã đạt 62,5%.
Với những đột phá phát triển nguồn nhân lực được xác định trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV khẳng định sự ưu tiên cho phát triển nguồn nhân lực trong những năm tới, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, xây dựng Sơn La trở thành trung tâm nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của vùng Tây Bắc có kinh tế phát triển cao, có đội ngũ nguồn nhân lực trình độ cao, đưa Sơn La tiếp tục phát triển bền vững trong thời gian tới.
Vũ Thị Hoa (Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy)

Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!