(Lược trích bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Hữu Đông, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh tại Hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025)
Sau thời gian làm việc khẩn trương, nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm, Hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã thành công tốt đẹp
I- Về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV từ đầu nhiệm kỳ đến nay
Bước vào đầu nhiệm kỳ, bản thân nội tại tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh còn gặp một số khó khăn, thách thức như: quy mô kinh tế còn nhỏ, phát triển chưa bền vững; thu ngân sách nhà nước trên địa bàn còn thấp; sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực, thành phần kinh tế còn hạn chế; kết cấu hạ tầng nhất là hạ tầng giao thông vận tải, logistics chưa đồng bộ và thiếu kết nối trở thành điểm "nghẽn" cản trở sự phát triển; nguồn lực còn hạn hẹp trong khi nhu cầu đầu tư phát triển, bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh, phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu rất lớn; đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, số hộ nghèo, hộ cận nghèo vẫn còn cao; tình hình thời tiết, dịch bệnh luôn diễn biến phức tạp; chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, chuyển dịch cơ cấu lao động chưa tương ứng với chuyển dịch cơ cấu sản xuất; các vấn đề về ô nhiễm môi trường, di cư tự do, tệ nạn và tội phạm ma túy,... cần tiếp tục quan tâm giải quyết; tình hình an ninh, trật tự còn tiềm ẩn yếu tố có thể gây phức tạp, nhất là âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình", tuyên truyền, vận động thành lập "Nhà nước Mông" của các thế lực thù địch.
Bên cạnh đó, trong 02 năm của nửa đầu nhiệm kỳ, dịch Covid-19 xuất hiện và diễn biến phức tạp; từ tháng 02/2022 đến nay, xung đột Nga - Ucraina diễn ra và kéo dài, tình hình chính trị thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường dẫn đến giá xăng, dầu, nguyên, vật liệu, các yếu tố đầu vào biến động mạnh, ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, công tác thu hút đầu tư và việc làm, đời sống nhân dân trên địa bàn tỉnh.
Trước khó khăn đó, tỉnh luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các ban, bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh bạn, các tổ chức trong và ngoài tỉnh, cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo điều hành quyết liệt của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự nỗ lực phấn đấu và quyết tâm của cả hệ thống chính trị, các thành phần kinh tế, nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Tỉnh đã triển khai quyết liệt, hiệu quả "mục tiêu kép" vừa đảm bảo phòng, chống dịch Covid-19, vừa duy trì phát triển kinh tế - xã hội.
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã tập trung sớm xây dựng và ban hành Chương trình hành động, các Đề án, Nghị quyết, Kết luận và thành lập các ban chỉ đạo, tổ công tác, bố trí nguồn lực để triển khai, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực; các ngành, lĩnh vực, các vùng, các thành phần kinh tế đều có bước phát triển tiến bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được đầu tư từng bước đồng bộ; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới từng bước được cải thiện; an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo; năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng cao, hệ thống chính trị được củng cố.
1. Về kết quả chung
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân 3 năm (2021-2023) ước đạt 6,71%; GRDP bình quân năm 2022 đạt 48,96 triệu đồng/người/năm (tăng 4,86 triệu đồng so với năm 2020). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, đúng hướng và phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh. Tổng thu ngân sách nhà nước 03 năm 2021-2023 ước đạt 54.333 tỷ đồng, bình quân đạt 18.111 tỷ đồng/năm; trong đó, thu ngân sách trên địa bàn ước đạt: 13.714 tỷ đồng, bình quân 4.471 tỷ đồng/năm, tỷ lệ tăng 6,13%/năm. Tập trung phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; thúc đẩy phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản theo chuỗi giá trị gắn với xây dựng, phát triển và bảo vệ thương hiệu; đến nay, toàn tỉnh có trên 83.000 ha cây ăn quả (sản lượng đạt trên 450.000 tấn); có 18.963 ha cà phê (sản lượng cà phê nhân đạt trên 29.600 tấn, giá trị cà phê nhân đạt 1.266 tỷ); toàn tỉnh có 59 xã đạt chuẩn nông thôn mới (tăng 10 xã so với năm 2020), trong đó có 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao.
Công tác xúc tiến thương mại, kết nối, tiêu thụ và xuất khẩu hàng hóa, nông sản được đẩy mạnh; quan tâm phát triển thương mại điện tử nhằm quảng bá, đẩy mạnh tiêu thụ các sản phẩm hàng hóa, nông sản của tỉnh; giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu năm từ năm 2021 đến tháng 6/2023 ước đạt 413,8 triệu USD, bằng 46% kế hoạch giai đoạn 2021-2025; sản phẩm nông sản đã được đưa lên 35 sàn thương mại điện tử; đã xuất khẩu và giới thiệu 17 sản phẩm nông sản vào thị trường 21 nước và vùng lãnh thổ.
Lĩnh vực công nghiệp tiếp tục có bước phát triển tích cực, nhất là công nghiệp chế biến nông sản, công nghiệp sản xuất điện từ nguồn năng lượng tái tạo; tỉnh đã quy hoạch 2 khu công nghiệp (Khu công nghiệp Mai Sơn, Khu công nghiệp Vân Hồ) và 09 cụm công nghiệp tại các huyện, thành phố. Toàn tỉnh Sơn La có 17 nhà máy và 543 cơ sở chế biến nông sản (trong đó có 50 cơ sở, nhà máy chế biến nông sản xuất khẩu).
Đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại, thu hút đầu tư có trọng tâm, khai thác và phát huy cao nhất mọi tiềm năng, lợi thế, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 02 năm 2021-2022 đạt 36.821 tỷ đồng, từ năm 2021 đến tháng 6/2023, đã có 20 dự án hoàn thành đi vào hoạt động sản xuất với tổng vốn thực hiện 6.049 tỷ đồng; đã cấp mới 42 dự án với số vốn đăng ký 8.412 tỷ đồng.
Phát triển doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh, hỗ trợ và thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp hoạt động; đến tháng 6/2023, trên địa bàn tỉnh có 3.340 doanh nghiệp ngoài nhà nước với tổng vốn đăng ký là 51.700 tỷ đồng (tăng 473 đăng ký doanh nghiệp so với năm 2020); có 900 hợp tác xã (tăng 253 hợp tác xã so với năm 2020). Một số tập đoàn, doanh nghiệp có năng lực, uy tín trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, xuất khẩu nông sản trong và ngoài nước đã và đang đầu tư các nhà máy chế biến nông sản trên địa bàn tỉnh (Vinamilk (Nhà máy chế biến sữa tại Mộc Châu); Tập đoàn TH (Nhà máy chế biến hoa quả tươi và thảo dược Vân Hồ); Công ty cổ phần thực phẩm Đồng Giao (Trung tâm chế biến rau, quả Doveco Sơn La);...).
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao tiếp tục được đẩy mạnh. Hiện nay toàn tỉnh có hơn 3.300 đội văn nghệ bản, tiểu khu, tổ dân phố. Tổ chức thành công Liên hoan "Nghệ thuật Xoè Thái" và vinh danh "Nghệ thuật Xoè Thái" được UNESCO ghi danh là di sản văn hoá phi vật thể đại diện cho nhân loại; Lễ Kỷ niệm 70 năm ngày Giải phóng tỉnh Sơn La; các hoạt động trong khuôn khổ Chung kết cuộc thi Hoa hậu Du lịch Thế giới năm 2022 tại tỉnh Sơn La; Ngày hội Văn hóa - Du lịch năm 2022 tại tỉnh Luông Pha Băng, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào; Ngày hội Du lịch Văn hóa tỉnh Sơn La "Điểm đến thiên nhiên khu vực hàng đầu thế giới" năm 2023 tại Khu lịch quốc gia Mộc Châu. Thể thao thành tích cao được đẩy mạnh; tại SEA Games 31 có 03 vận động viên tham gia đạt huy chương Vàng; tại SEA Games 32 tỉnh có 02 vận động viên tham gia và giành 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc; có 02 vận động viên của tỉnh tham gia và giành 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc Giải vô địch Pencak SiLat lần thứ 19 tại Malaysia. Công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân được thực hiện tốt.
Công tác phòng, chống dịch Covid-19 được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo; đã cơ bản kiểm soát tốt dịch bệnh, giảm mạnh số ca nhiễm mới, số ca có diễn biến nặng và số ca tử vong, mọi hoạt động của người dân trở về trạng thái bình thường, tỷ lệ tiêm vắc xin đạt cao; số giường bệnh/10.000 dân đạt 29,9 giường bệnh; số bác sỹ/10.000 dân đạt 8,6 bác sỹ.
An sinh xã hội được bảo đảm; tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo dự ước đến hết năm 2023 còn 14,83%, vượt kế hoạch đề ra. Có 03 huyện được công nhận thoát nghèo (Bắc Yên, Mường La, Vân Hồ), còn 02 huyện nghèo (Sốp Cộp, Thuận Châu) theo Quyết định số 353/2022/QĐ-TTg ngày 15/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ. Đẩy mạnh triển khai thực hiện Đề án "Huy động nguồn lực hỗ trợ hộ nghèo khó khăn về nhà ở trên địa bàn tỉnh Sơn La giai đoạn 2021-2025", trong giai đoạn từ năm 2021 đến hết tháng 6/2023, toàn tỉnh đã huy động được 250,944 tỷ đồng (chủ yếu là nguồn xã hội hóa) hỗ trợ 3.792 nhà cho hộ nghèo (3.579 nhà xây mới; 213 nhà sửa chữa); hoàn thành việc xóa nhà tạm tại 08 huyện, thành phố (Vân hồ, Sốp Cộp, Sông Mã, Quỳnh Nhai, Mường La, Bắc Yên, Mộc Châu, Thành phố).
Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh biên giới được đảm bảo và giữ vững; công tác phòng, chống ma túy được đặc biệt quan tâm. Năm 2021, tỉnh đã phối hợp tổ chức thành công Diễn tập Khu vực phòng thủ tỉnh gắn với diễn tập chỉ huy tham mưu 1 bên 2 cấp trên bản đồ, có một phần thực binh trên địa bàn Tây Bắc của Quân khu 2 đảm bảo an toàn tuyệt đối, đạt kết quả cao; tổ chức thành công diễn tập Khu vực phòng thủ tại 07 huyện.
Quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, Đại sứ quán nước ngoài được duy trì, phát triển; mối quan hệ hợp tác hữu nghị giữa Sơn La với 09 tỉnh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào được củng cố, tăng cường. Hỗ trợ 09 tỉnh nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19; giúp bạn Lào xây dựng 51 trụ sở làm việc của Công an tại các bản tiếp giáp biên giới giữa Sơn La với 02 tỉnh Hủa Phăn và Luông Pha Băng. Tổ chức thành công Lễ Kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào (05/9/1962 - 05/9/2022); 45 năm ký Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác Việt Nam - Lào (18/7/1977 - 18/7/2022) và đón nhận Bằng xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt đối với Khu di tích lịch sử cách mạng Việt Nam - Lào; ký Biên bản thỏa thuận hợp tác giai đoạn 2022-2024 với 09 tỉnh nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (hỗ trợ mỗi tỉnh 01 công trình trị giá 5 tỷ đồng); hỗ trợ đào tạo lưu học sinh Lào theo học các lớp Trung cấp, cao đẳng, đại học, liên thông đại học, cao học và bồi dưỡng tiếng Việt; phối hợp chặt chẽ với tỉnh Hủa Phăn thực hiện chủ trương nâng cấp cửa khẩu chính Lóng Sập thành Cửa khẩu quốc tế.
Công tác xây dựng Đảng, củng cố hệ thống chính trị được tăng cường. Tổ chức nghiên cứu, quán triệt, học tập và ban hành đầy đủ, kịp thời, sát thực, hệ thống các văn bản để thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận... của Trung ương về công tác xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị. Lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; tăng cường công tác học tập, nghiên cứu lý luận chính trị, tổng kết thực tiễn. Tập trung thực hiện Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện có hiệu quả Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định của Trung ương, của Tỉnh ủy về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên.
Ban hành và đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 02-NQ/TU ngày 21/01/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về "Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng ở đảng bộ xã, phường, thị trấn gắn với củng cố hệ thống chính trị cơ sở". Thực hiện hiệu quả việc sắp xếp, sáp nhập các bản, tiểu khu, tổ dân phố (sau sáp nhập, toàn tỉnh còn 2.303 bản, tiểu khu, tổ dân phố; giảm 206 bản, tiểu khu, tổ dân phố so với 31/12/2021). Lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới công tác dân vận, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; đẩy mạnh thực hiện phong trào thi đua "Dân vận khéo"; tăng cường xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội.
Lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả công tác dân tộc, tôn giáo trên địa bàn. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sớm thành lập và khẩn trương đưa Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng và tiêu cực tỉnh vào hoạt động; thực hiện tốt công tác tiếp dân, tăng cường đối thoại trực tiếp với nhân dân để kịp thời nắm bắt, giải quyết các kiến nghị chính đáng của nhân dân; số đơn thư và người dân đến phản ánh, kiến nghị giảm mạnh qua các năm (Năm 2022, toàn tỉnh đã tiếp 1.347 lượt người với 1.256 vụ việc đến các cơ quan công quyền kiến nghị và phản ánh (giảm 254 lượt (16%), 614 vụ việc (32,83%) so với năm 2021); số lượng đơn thư giảm 10,2% so với năm 2021, tỷ lệ giải quyết đạt 90,7%). Đã tổ chức Hội nghị trực tuyến nghiên cứu, học tập, tuyền truyền tác phẩm "Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh" của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và thông tin một số nội dung phòng, ngừa sai phạm. Lãnh đạo thực hiện công tác kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm, theo đúng Điều lệ Đảng và các quy định của Trung ương; đảm bảo đúng quy trình, quy định và thể hiện tính quyết liệt, nghiêm minh.
2. Về kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020-2025 đề ra 24 chỉ tiêu (trong đó có 8 chỉ tiêu kinh tế; 11 chỉ tiêu xã hội; 3 chỉ tiêu môi trường; 2 chỉ tiêu công tác xây dựng Đảng và củng cố hệ thống chính trị), có 03 chỉ tiêu bình quân, 01 chỉ tiêu hằng năm và 20 chỉ tiêu phấn đấu đạt được vào năm 2025.
Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu ước đến hết năm 2023: Có 02 chỉ tiêu dự kiến vượt kế hoạch năm 2023 theo lộ trình đến năm 2025; có 22 chỉ tiêu dự kiến đạt mục tiêu đến năm 2023 đề ra. Dự kiến kết quả đạt được các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025: Có 03 chỉ tiêu dự kiến vượt mục tiêu Đại hội; có 19 chỉ tiêu dự kiến đạt mục tiêu Đại hội; có 01 chỉ tiêu dự kiến không đạt mục tiêu; có 01 chỉ tiêu đạt kế hoạch một phần mục tiêu Đại hội đề ra.
3. Kết quả thực hiện 03 khâu đột phá
Khâu đột phá về phát triển nguồn nhân lực: Chất lượng giáo dục đào tạo được nâng lên, tỷ lệ tốt nghiệp THPT tăng qua các năm (Năm 2021, tỷ lệ tốt nghiệp Trung học phổ thông đạt 98,35%, tăng 1,25% điểm phần trăm so với năm 2020. Năm 2022, tỷ lệ tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2022 đạt 99,6%, tăng 1,25% điểm phần trăm so với năm 2021); tỉnh đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. Đến hết năm học 2022-2023, có 365/597 (chiếm 61,14%) trường đạt chuẩn quốc gia (vượt 4,5% so với mục tiêu đề ra). Tỷ lệ phòng học kiên cố đạt 72,1%; phòng học bán kiên cố 24,8%; phòng học tạm 3,1%. Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng số lao động xã hội 63,91%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị là 3,73%; lệ số lao động được đào tạo trong tổng số lao động lên 59,51%, trong đó lao động được đào tạo có bằng cấp chứng chỉ đạt 25%.
Khâu đột phá về phát triển kết cấu hạ tầng: Triển khai các dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh: chuẩn bị đầu tư dự án tuyến Cao tốc Hòa Bình - Mộc Châu (đoạn tuyến trên địa bàn tỉnh Sơn La); đưa vào vận hành tuyến tránh thành phố Sơn La; đã hoàn thành Đề án xã hội hóa đầu tư, khai thác Cảng hàng không Nà Sản và trình Bộ Giao thông vận tải, Cảng hàng không Nà Sản đã được Bộ Giao thông vận tải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đưa vào Quy hoạch tổng thể mạng lưới sân bay, cảng hàng không Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050; giai đoạn 2021-2022, đã hoàn thành 02 dự án đường giao thông đến trung tâm xã, tổng số xã có đường đến trung tâm được cứng hoá 199/204 xã (đạt 97,5%). Từng bước xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng đô thị. Trên địa bàn tỉnh có 11 đô thị, trong đó có 01 đô thị loại II, 02 đô thị loại IV, 08 đô thị loại V; dự ước hết tháng 6/2023, tỷ lệ đô thị hóa đạt 15,02% (tăng 0,17% so với năm 2021), hết năm 2023 đạt 15,79%.
Khâu đột phá về cải cách hành chính: Rút ngắn tối thiểu 25% thời gian giải quyết thủ tục hành chính, nhất là các thủ tục liên quan trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp. Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông. Sắp xếp tổ chức bộ máy của các cơ quan, tổ chức hành chính cấp tỉnh, cấp huyện hợp lý, hiệu quả. Xây dựng và phát triển Chính quyền điện tử, Chính quyền số. Tiếp tục triển khai các nền tảng số dùng chung của tỉnh. Quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và nâng cao các chỉ số đo lường chất lượng phục vụ hành chính của tỉnh (Năm 2022, Chỉ số PAPI đạt 40,8694 điểm (tăng 0,7274 điểm so với năm 2021, đứng thứ 46/63 tỉnh, thành phố, tăng 04 bậc so với năm 2021); Chỉ số SIPAS đạt 82,18%, đứng thứ 17/63 tỉnh, thành phố (giảm 11 bậc so với năm 2021); Chỉ số PAR Index đạt 86,78%, đứng thứ 13/63 tỉnh,thành phố (tăng 02 bậc trên bảng xếp hạng so với năm 2021); Chỉ số PCI đạt 63,22 điểm (tăng 0,77 điểm so với năm 2021), xếp thứ 49/63 tỉnh,thành phố, xếp thứ 8/14 tỉnh trung du và miền núi Bắc Bộ).
4. Về kết quả thực hiện một số nội dung trọng tâm
Xây dựng huyện Mộc Châu thành thị xã vào năm 2025: điểm đô thị loại IV đạt được là 79,5 điểm. Hiện đã đạt 5/5 tiêu chí, 54/63 tiêu chuẩn, 09 tiêu chuẩn chưa đạt gồm: (1) Cân đối thu chi ngân sách, (2) mật độ dân số toàn đô thị, (3) Tỷ lệ đường phố được chiếu sáng (4) Tỷ lệ hộ gia đình có kết nối cáp quang, (5) Nhà tang lễ; (6) Quy chế quản lý kiến trúc; (7) Công trình xanh, (8) nhà ở dân cư khu vực ngoại thị, (9) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.
Phát triển thành phố Sơn La theo định hướng đô thị loại I và phát triển xanh, nhanh, bền vững: Đã hoàn thành phê duyệt Quy hoạch chung xây dựng thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La; hoàn thành phê duyệt Quy hoạch phân khu xây dựng trục đô thị Chiềng Sinh - Nà Sản; hiện đang tiếp tục triển khai lập 04 đồ án Quy hoạch phân khu theo quy hoạch chung đã được phê duyệt gồm: Phân khu đô thị lịch sử; Phân khu đô thị Chiềng Sinh; Phân khu đô thị Chiềng Ngần; Phân khu đô thị sinh thái Hua La. Tập trung triển khai đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trọng điểm theo các quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để hoàn thiện, nâng cao các tiêu chí đô thị loại II và hướng tới tiệm cận một số tiêu chí đô thị loại I trực thuộc tỉnh (hiện nay đã đạt 60/63 tiêu chí).
Xây dựng huyện Quỳnh Nhai đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2025: Trên địa bàn huyện Quỳnh Nhai có 07/11 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Theo bộ tiêu chí huyện đạt chuẩn nông thôn mới, huyện đạt 01/09 tiêu chí (tiêu chí về thủy lợi) và 16/36 chỉ tiêu. Theo bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới, toàn huyện đạt 105 tiêu chí; bình quân đạt 9,5 tiêu chí/xã. Theo bộ tiêu chí xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao,trên địa bàn huyện có 02 xã đạt 5/19 tiêu chí; 01 xã đạt 12/19 tiêu chí.
Thực hiện xây dựng tỉnh Sơn La trở thành Trung tâm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của vùng Tây Bắc; trung tâm chế biến nông sản, trung tâm sữa, hoa quả, cây dược liệu của vùng Tây Bắc; xây dựng Trung tâm quốc gia nghiên cứu về khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp tại huyện Mộc Châu, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ về nông lâm nghiệp tại huyện Mộc Châu, Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Mộc Châu: Đến nay, diện tích cây trồng áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt và các tiêu chuẩn tương đương: 5.917 ha, bằng 44,9% so với mục tiêu đến năm 2025. Diện tích cà phê áp dụng 4C, UTZ, RA: 18.429,5 ha, bằng 122,9% so với mục tiêu đến năm 2025. Hệ thống tưới tiết kiệm nước (nhỏ giọt, phun…): 927 ha, bằng 17,3% so với mục tiêu đến năm 2025; Nhà lưới, nhà kính: 53 ha, bằng 28,5% so với mục tiêu đến năm 2025 của Nghị quyết 08-NQ/TU ngày 21/01/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Toàn tỉnh đã được cấp 281 mã số vùng trồng, diện tích 4.608,45 ha cây ăn quả phục vụ xuất khẩu và 34 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu; 24 sản phẩm nông sản được Cục Sở hữu trí tuệ cấp văn bằng bảo hộ. Toàn tỉnh có 110 sản phẩm OCOP. Hỗ trợ duy trì, phát triển 261 chuỗi cung ứng thực phẩm nông sản, thủy sản an toàn. Toàn tỉnh công nhận được 04 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Dự kiến năm 2023 toàn tỉnh công nhận thêm 6 vùng quả, cây công nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn huyện Sông Mã (02 vùng), Yên Châu, Thuận Châu, Mai Sơn (02 vùng). Ước thực hiện năm 2025 công nhận từ 10 vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trở lên, vượt so với chỉ tiêu đề ra từ 2 vùng trở lên. Hiện nay, toàn tỉnh có 560 nhà máy, cơ sở chế biến nông sản (trong đó có 17 nhà máy, 543 cơ sở). Đã thành lập Trung tâm nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ Khoa học và công nghệ về nông lâm nghiệp tại huyện Mộc Châu.
Thực hiện xây dựng tỉnh Sơn La trở thành trung tâm du lịch của vùng Tây Bắc: Đã ban hành 03 Đề án phát triển du lịch (Đề án "Phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu đủ điều kiện được công nhận vào năm 2025"; Đề án "Định hướng phát triển Vùng lòng hồ thủy điện Sơn La trở thành Khu du lịch quốc gia, giai đoạn 2022-2030"; Đề án "Phát triển du lịch huyện Quỳnh Nhai trở thành Khu du lịch cấp tỉnh giai đoạn 2021 - 2030); hình thành và phát triển sản phẩm du lịch tiêu biểu (Cầu kính Bạch Long Mộc Châu; Chợ đêm Mộc Châu; du lịch nông nghiệp tại thung lũng mận Nà Ka, thị trấn Nông Trường Mộc Châu; du lịch cộng đồng bản Tà Số, xã Chiềng Hắc, huyện Mộc Châu; du lịch cộng đồng xã Ngọc Chiến, huyện Mường La; du lịch Vùng lòng hồ thủy điện Sơn La, địa bàn huyện Quỳnh Nhai; khu du lịch Tà Xùa, Bắc Yên...). Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 06 khu du lịch, điểm du lịch; 03 sản phẩm du lịch (OCOP) đạt 4 sao. Khu du lịch quốc gia Mộc Châu được Tổ chức giải thưởng du lịch thế giới (World Travel Awards) bình chọn, trao giải thưởng "Điểm đến thiên nhiên khu vực hàng đầu Thế giới"; đồng thời cơ bản đã hoàn thiện 04 tiêu chí còn thiếu, để lập hồ sơ trình công nhận khu du lịch quốc gia vào cuối năm 2023. Tổng lượng khách đến Sơn La từ năm 2021 đến tháng 6/2023 ước đạt 6,36 triệu lượt người, bằng 36% kế hoạch; doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 6.180 tỷ đồng, bằng 32% kế hoạch 05 năm.
Bên cạnh những ưu điểm, kết quả đã đạt được, chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, vẫn còn một số hạn chế, tồn tại, như:
Công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện một số chỉ tiêu và nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội còn hạn chế (dự kiến có 01/24 chỉ tiêu đến năm 2025 không đạt mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra là tỷ lệ che phủ rừng; 01 chỉ tiêu không đạt kế hoạch một phần là tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước sạch): Tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP) trên địa bàn chưa bền vững, còn phụ thuộc nhiều vào ngành sản xuất và phân phối điện (phụ thuộc vào thời tiết); khả năng dự báo, đánh giá về tốc độ tăng tổng sản phẩm (GRDP) còn hạn chế. Công tác huy động, thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển còn hạn chế; tiến độ triển khai một số dự án thu hút đầu tư còn chậm. Công tác thu hút đầu tư vào công nghiệp chế biến nông sản còn chậm, gặp khó khăn. Triển khai thực hiện một số dự án đầu tư công, một số dự án trọng điểm còn chậm, tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chưa đáp ứng yêu cầu. Tiến độ lập Quy hoạch tỉnh còn chậm. Quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết chưa có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược và có tính ổn định lâu dài. Công tác quản lý quy hoạch, đấu giá, đấu thầu thực hiện một số dự án trên địa bàn tỉnh; công tác quản lý đất đai, quy hoạch, trật tự xây dựng đô thị, xử lý ô nhiễm môi trường có mặt còn hạn chế. Phát triển du lịch chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh.
Chất lượng lao động chưa cao; thiếu lao động lành nghề, thiếu chuyên gia kỹ thuật giỏi.
Việc chỉ đạo xây dựng và ban hành các văn bản thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia theo Nghị định số 27/2022/NĐ-CP còn chậm, chưa đồng bộ, thống nhất, gây lúng túng trong quá trình thực hiện.
Một số địa bàn vùng sâu, vùng xa, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ tái nghèo còn cao; chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Công tác cải cách hành chính ở một số địa phương, đơn vị chưa thật sự hiệu quả; việc giải quyết đơn thư tại một số nơi còn chậm.
Công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhất là tự kiểm tra, phát hiện tham nhũng trong nội bộ các cơ quan, tổ chức, đơn vị còn hạn chế. Còn có cán bộ là đảng viên thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý vi phạm, gây hậu quả nghiêm trọng, bị kỷ luật Đảng, khởi tố, xử lý hình sự. Việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm, đôn đốc thực hiện sau kết luận thanh tra, kiểm tra, giám sát, kiểm toán ở một số tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có nội dung còn kéo dài, chưa có giải pháp khắc phục triệt để.
Từ thực tế lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các Nghị quyết trong nửa đầu nhiệm kỳ vừa qua, chúng ta có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm như sau:
Một là, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ trên cơ sở đề cao trách nhiệm người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý và phát huy dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng. Đối với những vấn đề lớn, khó, phức tạp, hệ trọng, cấp bách, nhạy cảm, còn nhiều ý kiến khác nhau, thì cần phải đưa ra họp bàn, thảo luận một cách dân chủ, thẳng thắn. Phải bám sát Chương trình làm việc toàn khóa của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đồng thời nhạy bén, linh hoạt, kịp thời điều chỉnh, bổ sung vào chương trình công tác những công việc hệ trọng, phức tạp, mới phát sinh trên các lĩnh vực để kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo có hiệu quả toàn diện mọi hoạt động trong đời sống xã hội. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi sai phạm; phát huy vai trò của nhân dân, các tổ chức trong hệ thống chính trị trong công tác xây dựng Đảng.
Hai là, quán triệt sâu sắc, nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn của tỉnh; có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, sự vào cuộc với quyết tâm cao, nỗ lực lớn của cả hệ thống chính trị, sự đoàn kết nhất trí của toàn Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Ba là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, xác định đúng và trúng những nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt để tập trung chỉ đạo và ưu tiên thực hiện, kịp thời tổng kết thực tiễn, nhân rộng các mô hình tiên tiến, điển hình trong tổ chức thực hiện. Duy trì hiệu quả hoạt động của các Ban Chỉ đạo tổ chức, triển khai thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.
Bốn là, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách, gắn với việc đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển.
Năm là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với phát triển kinh tế tri thức. Đẩy mạnh ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất; gắn nhiệm vụ tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
II- Về nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu đến hết nhiệm kỳ Đại hội
Dự báo tình hình thế giới, trong nước từ nay đến hết nhiệm kỳ bên cạnh những thời cơ, thuận lợi cũng sẽ còn có nhiều khó khăn, thách thức lớn. Trên thế giới, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại tiếp tục diễn ra gay gắt; một số cuộc xung đột quân sự vẫn còn tiếp diễn và có thể còn kéo dài, tác động đến địa chính trị, địa kinh tế, an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng toàn cầu; khoa học - công nghệ và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra cả thời cơ và thách thức mới đối với mọi quốc gia, dân tộc; biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh truyền thống, phi truyền thống ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, có thể đe doạ nghiêm trọng đến sự ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta...
Ở trong tỉnh, chúng ta vẫn đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn; kết quả nửa nhiệm kỳ đầu đã đặt ra yêu cầu, đòi hỏi cần phải nỗ lực, cố gắng rất lớn, quyết tâm rất cao để hoàn thành mục tiêu, chỉ tiêu Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã đề ra; cần phải hết sức bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, nhất là từ đầu nhiệm kỳ đến nay, để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, để triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho nửa cuối của nhiệm kỳ. Trong đó, cần tập trung ưu tiên triển khai thực hiện thật tốt những nhiệm vụ trọng tâm sau đây:
Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, đề án, kết luận thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2020 - 2025; Chương trình làm việc của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy năm 2023. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 10/02/2022 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Kết luận của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính (số 176/TB-VPCP ngày 17/6/2022), Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang (số 207/TB-VPCP ngày 05/6/2023) tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Sơn La.
Đẩy mạnh và làm tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa". Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đẩy mạnh đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác tổ chức, cán bộ; tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Thực hiện tốt công tác dân vận, nắm tình hình nhân dân, tình hình dân tộc, tôn giáo; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác nội chính, cải cách tư pháp và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; chú trọng công tác tự kiểm tra phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, tiêu cực.
Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 3 khâu đột phá đã đề ra: Về phát triển nguồn nhân lực: Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo các cấp, nhất là bậc Trung học phổ thông và giáo dục nghề nghiệp; nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ. Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, tư vấn, giới thiệu việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp và dịch vụ. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học; nhân rộng các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến vào sản xuất.
Về phát triển kết cấu hạ tầng: Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội theo hướng đồng bộ, từng bước hiện đại, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Tập trung triển khai thực hiện dự án đường Hòa Bình - Mộc Châu (đoạn trên địa bàn tỉnh Sơn La); triển khai công tác chuẩn bị đầu tư xây dựng Cảng hàng không Nà Sản theo quy hoạch; đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án đường nối QL.37, huyện Bắc Yên với QL.279D, huyện Mường La; tiếp tục đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng khu Công nghiệp Mai Sơn, hình thành phát triển các khu công nghiệp Vân Hồ và các cụm Công nghiệp; đầu tư hạ tầng Khu du lịch quốc gia Mộc Châu, phát triển đô thị thành phố Sơn La… Tập trung hoàn thành quy hoạch tỉnh; hoàn thành phê duyệt quy hoạch chung, quy hoạch phân khu trên địa bàn đảm bảo chất lượng; đẩy nhanh tiến độ thực hiện điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu du lịch quốc gia Mộc Châu; lập quy hoạch các khu du lịch cấp tỉnh và các quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị đảm bảo thống nhất đồng bộ.
Đẩy mạnh công tác thu hút đầu tư; tập trung đầu tư, kêu gọi đầu tư vào các dự án trọng điểm, dự án có sức lan tỏa, dẫn dắt sự phát triển của các ngành, lĩnh vực; thu hút đầu tư các dự án hạ tầng, phát triển khu, cụm công nghiệp; dự án khu đô thị mới, khu dân cư; các dự án phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch.
Về cải cách hành chính. Tập trung tháo gỡ khó khăn, cải cách thủ tục hành chính; thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; tăng cường đối thoại, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.
Huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tổ chức điều hành dự toán chi ngân sách đảm bảo yêu cầu siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính. Đẩy mạnh công tác quy hoạch sử dụng đất; công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giải quyết nhanh các thủ tục về bồi thường giải phóng mặt bằng tạo quỹ đất sạch; định giá đất, tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất; quản lý và khai thác hiệu quả các nguồn lực đầu tư từ đất. Quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu tư của Nhà nước. Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và vốn thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia.
Đẩy mạnh phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của các ngành, lĩnh vực, sản phẩm. Cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất hàng hóa lớn. Từng bước chuyển tư duy từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp; đẩy mạnh phát triển thị trường tiêu thụ nông sản trong nước và ngoài nước. Phát triển chăn nuôi đại gia súc tại các xã khu vực III và bản đặc biệt khó khăn theo Kết luận số 703-KL/TU ngày 30/8/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Tập trung thực hiện tốt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Khai thác, phát huy tiềm năng, nâng cao giá trị gia tăng, thu hút đầu tư phát triển công nghiệp, mở rộng năng lực sản xuất nhất là các sản phẩm công nghiệp chế biến sâu, gắn với xây dựng thương hiệu tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ và đẩy mạnh xuất khẩu; quan tâm phát triển năng lượng tái tạo; thực hiện tốt quy hoạch phát triển các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản theo Nghị quyết 06/NQ-TU ngày 21/01/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, gắn với khai thác tiềm năng các vùng nguyên liệu, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp địa phương; hỗ trợ, tạo điều kiện để các chủ đầu tư khai thác hiệu quả công suất các nhà máy chế biến lớn trên địa bàn.
Tiếp tục duy trì và phát huy hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, đa dạng hóa các loại hình xúc tiến thương mại. Tập trung thu hút các doanh nghiệp đầu tư nhà máy chế biến, bảo quản các sản phẩm chất lượng cao đủ điều kiện xuất khẩu vào các thị trường khó tính.
Tiếp tục phát triển doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước, hợp tác xã trên địa bàn tỉnh theo Nghị quyết số 23-NQ/TU ngày 31/8/2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể trên địa bàn toàn tỉnh, nòng cốt là phát triển hợp tác xã.
Phát triển kinh tế đi đôi với bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, phát triển toàn diện các lĩnh vực văn hóa - xã hội. Xây dựng và phát triển văn hóa toàn diện, bền vững, tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa các dân tộc; ; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân; chú trọng công tác đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện giảm nghèo bền vững; làm tốt công tác chăm sóc các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội.
Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại và chủ động hội nhập quốc tế. Duy trì, mở rộng hợp tác quốc tế, chú trọng mở rộng hợp tác với một số địa phương của các nước ngoài khu vực, hợp tác với các tổ chức quốc tế, các cơ quan đại diện ngoại giao nước ngoài tại Việt Nam để tăng cường quảng bá, giới thiệu tiềm năng, lợi thế của tỉnh ra cộng đồng quốc tế, vận động thu hút đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Chuẩn bị cho đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2030. Xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp, đặc biệt là Quy hoạch Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa XVI, nhiệm kỳ 2025-2030. Khẩn trương, nghiêm túc tiến hành tổng kết thực tiễn; thành lập các Tiểu ban chuẩn bị cho Đại hội XVI Đảng bộ để các tiểu ban này, nhất là Tiểu ban Văn kiện và Tiểu ban Nhân sự sớm đi vào hoạt động, đáp ứng tốt các mục tiêu, yêu cầu đề ra.
Tập trung thực hiện, phấn đấu hoàn thành một số nhiệm vụ trọng tâm đã đề ra: Xây dựng huyện Mộc Châu thành thị xã vào năm 2025 theo Nghị quyết 10-NQ/TU ngày 13/5/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Xây dựng huyện Quỳnh Nhai đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2025 theo Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 26/7/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Xây dựng và phát triển thành phố Sơn La theo định hướng đô thị loại I và phát triển xanh, nhanh, bền vững theo Kết luận số 353-KL/TU ngày 07/9/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Phát huy hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh về phát triển thành phố Sơn La theo định hướng thành đô thị loại I và phát triển xanh, nhanh, bền vững (theo Quyết định số 251-QĐ/TU ngày 28/9/2021).
Tiếp tục nâng cao hiệu quả Trung tâm nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ về nông lâm nghiệp huyện Mộc Châu. Tập trung phát triển vùng nguyên liệu nông sản theo hướng tập trung, phù hợp với phương án sử dụng đất gắn với các cơ sở chế biển nông sản, ưu tiên hình thành các khu, vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá tập trung, chuyên canh, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ, giảm giá thành sản phẩm và đẩy mạnh phát triển các vùng nguyên liệu nông sản an toàn, bền vững đảm bảo điều kiện được cấp mã vùng trồng và xuất khẩu sản phẩm chế biến. Xây dựng tỉnh Sơn La trở thành trung tâm phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của vùng Tây Bắc; trung tâm chế biến nông sản, trung tâm sữa, hoa quả, cây dược liệu của vùng Tây Bắc, Trung tâm quốc gia nghiên cứu về khoa học công nghệ cao trong nông nghiệp tại huyện Mộc Châu; xây dựng trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại thành phố Sơn La
Tiếp tục chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả Kết luận số 94-KL/TU ngày 23/01/2021 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về Phát triển du lịch tỉnh Sơn La đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 có trọng tâm, trọng điểm, tạo điểm nhấn và tạo sức lan tỏa; thực hiện có hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Tổ chức triển khai thực hiện Đề án Phát triển Khu du lịch quốc gia Mộc Châu đủ điều kiện được công nhận trước năm 2025; Đề án định hướng phát triển Vùng lòng hồ thủy điện Sơn La trở thành Khu du lịch quốc gia.
Với những kết quả, thành tựu đã đạt được và những kinh nghiệm đã tích luỹ, rút ra được từ đầu nhiệm kỳ đến nay, tôi tin tưởng và mong rằng, sau Hội nghị này, với niềm tin mới, khí thế mới, động lực mới, cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong tỉnh sẽ tiếp tục đoàn kết, phấn đấu với quyết tâm và nỗ lực cao hơn nữa; năng động, sáng tạo hơn nữa để sáng suốt nắm bắt mọi thời cơ, thuận lợi; vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức; hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra cho cả nhiệm kỳ Đại hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!