Tiếp tục Chương trình Kỳ họp bất thường lần thứ 2, ngày 6/1, tại Nhà Quốc hội, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Quốc hội thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi). Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành nội dung Phiên họp.
Đồng chí Quàng Văn Hương, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội (Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Sơn La) đã tham gia ý kiến vào Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi). Báo Điện tử Sơn La giới thiệu nội dung ý kiến của đồng chí Quàng Văn Hương đến bạn đọc.
Kính thưa Chủ tọa phiên họp! Kính thưa Quốc hội!
Trước hết, tôi cơ bản nhất trí với dự thảo Luật và Báo cáo tiếp thu, giải trình, chỉnh lý Luật của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; nhất trí trình Quốc hội thông qua tại Kỳ họp Quốc hội lần này. Để góp phần hoàn thiện dự thảo Luật theo đúng quy định của Hiến pháp và chủ trương của Đảng, tôi có ý kiến về hai vấn đề sau (mặc dù Báo cáo tiếp thu, giải trình đã nêu nhưng tôi thấy chưa thực sự thuyết phục):
Vấn đề thứ nhất, về Chính sách của Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh.
Tại khoản 2, Điều 4 quy định ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước cho các hoạt động:
“a) Phát triển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc y tế cơ sở, hệ thống cấp cứu ngoại viện; tập trung cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
- b) Khám bệnh, chữa bệnh đối với người có công với cách mạng; trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, người thuộc hộ cận nghèo; người đang sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.”
Từ quy định trên, đối chiếu với Hiến pháp năm 2013, tại khoản 1, Điều 58 quy định “ Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”. Như vậy, về phạm vi, địa bàn, Hiến pháp quy định có 3 vùng ưu tiên: miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Về đối tượng, Hiến pháp quy định có 02 nhóm ưu tiên là đồng bào DTTS và đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Như vậy, So với quy định của Hiến pháp, dự thảo Luật đã cắt bỏ địa bàn miền núi, đồng thời thể chế hóa, bổ sung thêm 03 vùng là: biên giới, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng DTTS; đây là quy định cần được làm rõ về cơ sở pháp lý để làm căn cứ cho việc ban hành các văn bản thi hành luật bảo đảm tính khả thi, đi vào cuộc sống; vì việc quy định không rõ, không chính xác sẽ ảnh hưởng rất lớn đến đồng bào DTTS.
Đối với quy định về vùng DTTS, đây là quy định theo Điều 36 Hiến pháp năm 1992, đến Hiến pháp năm 2013 đã cắt bỏ. Theo Nghị quyết số 88 ngày 18/11/2019 của Quốc hội khóa XIV phê duyệt Đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN giai đoạn 2021-2030 thì vùng miền núi và dân tộc thiểu số được gộp lại thành Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Kết quả phân định theo Quyết định số 33/2020/QĐ-TTg ngày 12/11/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tiêu chí phân định vùng đồng bào DTTS&MN theo trình độ phát triển giai đoạn 2021-2025, có 3.434 xã có tỷ lệ người DTTS chiếm từ 15% trở lên trong tổng dân số của xã. Như vậy, cụm từ vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo dự thảo Luật chưa thống nhất với Hiến pháp và Nghị quyết của Quốc hội. Nếu theo Nghị quyết 88 thì phải viết là Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Về đối tượng, Hiến pháp 2013 quy định ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Theo nội dung dự thảo Luật, trong các đối tượng ưu tiên, không có người DTTS mà quy định là người sống ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bao gồm cả DTTS và dân tộc Kinh sinh sống ở vùng này (theo kết quả phân định thì có 882 xã có tỷ lệ DTTS từ 15% đến 50%, nghĩa là số người dân tộc Kinh chiếm đa số ở các xã này). Mặt khác, trong 1.356 xã có tỷ lệ DTTS dưới 15% (không được phân định là vùng DTTS&MN) thì người DTTS sinh sống ở khu vực này không thuộc đối tượng được hưởng chính sách.
Như vậy, chính sách ưu tiên theo quy định của Hiến pháp chưa được thể chế hóa đầy đủ, công bằng.
Qua rà soát hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến lĩnh vực y tế ban hành trong thời gian qua cho thấy, ngoài 03 vùng, 04 đối tượng chính sách theo quy định của Hiến pháp, còn quy định thêm bổ sung để đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra, như các vùng (nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo, biên giới, ATK…); các đối tượng (người có công, người nghèo, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ, thanh niên, trẻ em, nông dân…); một số văn bản quy định 9-10 vùng, 5-7 đối tượng. Việc quy định nhiều vùng, đối tượng và không tập trung, thống nhất trong các văn bản làm cho việc xác định địa bàn, đối tượng cần ưu tiên gặp khó khăn và không thống nhất giữa các văn bản, các giai đoạn chính sách; dễ gây nhầm lẫn giữa chính sách người có công, chính sách dân tộc và chính sách trợ giúp xã hội; trong điều kiện nguồn lực Nhà nước có hạn dẫn đến không đạt được mục tiêu chính sách đề ra.
Từ các phân tích trên, tôi trân trọng đề nghị tiếp tục rà soát, chỉnh lý về phạm vi, đối tượng và thứ tự ưu tiên đối với vùng đồng bào DTTS&MN, đồng bào DTTS theo đúng quy định của Hiến pháp; phù hợp với các quy định hiện hành, bảo đảm chặt chẽ, có cơ sở pháp lý, rõ tiêu chí để thuận lợi cho việc thi hành luật.
Vấn đề thứ hai, về chính sách Đào tạo, bồi dưỡng người hành nghề tại điểm b, khoản 2, Điều 105 của dự thảo Luật, quy định “Nhà nước có chính sách Cấp học bổng chính sách cho người học một số chuyên ngành đang làm việc tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”.
Theo Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc có nêu: “Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế, có cơ chế đào tạo cán bộ có trình độ chuyên sâu là đồng bào DTTS ở địa phương”. Đề nghị chỉnh lý, thể chế hóa theo đúng quan điểm, chủ trương của Bộ Chính trị, bổ sung đối tượng ưu tiên là cán bộ người DTTS tại địa phương vào quy định của Luật.
Xin trân trọng cảm ơn Quốc hội!.

Bạn còn 500/500 ký tự
Bạn vui lòng nhập từ 5 ký tự trở lên !!!